Trang chủ > Phóng sự > Nghề nuôi hàu trên đầm Lập An, kiếm sống trong nỗi âu lo

Nghề nuôi hàu trên đầm Lập An, kiếm sống trong nỗi âu lo

Tháng Ba 19, 2011

Phương Ngạn/Người Việt

LĂNG CÔ, HUẾ – Hàu là món đặc sản, vừa bổ, mát, thơm ngon lại vừa rẻ tiền. Nhưng cái nghề nuôi hàu lại mang một hệ lụy tổ tông nào đó khó nói. Nó luôn làm cho người kiếm sống bằng nó phải khắc khổ, chịu đựng, chờ đợi và thấp thỏm trên mọi nghĩa!

Người dân đặt những chiếc vỏ xe cũ xuống đầm để hàu bám vào và thu hoạch. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)

Trong ký ức người dân thôn Loan Lý (thị trấn Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế) từ những năm đầu của thế kỉ mười bốn, cha ông của họ đã vào đây, giữa mảnh đất hoang vu, đầm và đầm, mênh mông là nước, xa xa ngọn Hải Vân mây bạc, bốn mùa nắng gió.

Cuộc sống của những cư dân Việt “đầu tiên” ở đây không có gì ngoài đầm, biển và nỗi nhớ cố hương. Biển gợi nhắc nỗi buồn kim cổ, và biển cũng mang tặng những món quà bao dung, cưu mang những thân phận nhỏ nhoi, lạc lõng…

Ðâu đó giữa con sóng bạc, đâu đó giữa mây chiều Hải Vân, giăng mắc những dấu ấn, ký ức tổ tông của họ. Ðể mỗi khi nhìn về chân trời, mỗi khi nghe gió mùa về, dân làng lại man man nhớ xa xôi, họ lại mang rớ, mang lưới, và không quên mang những chiếc vỏ lốp xe cũ kĩ ra đầm.

Ðể làm gì? Ðể móc những chiếc lốp xe ấy vào một thanh tre, rồi đóng những chiếc cọc xuống lòng đầm, treo thanh tre nằm ngang, những chiếc lốp xe nằm sâu cách mặt nước chừng 10 phân và chờ đợi ngày này năm sau!

Ðầm Lập An, một cái đầm rộng nằm chiếm gần hết thôn Loan Lý, với diện tích xấp xỉ một ngàn hecta, phía Bắc giáp triền cát, phía Nam giáp Hải Vân, phía Tây giáp dãy Trường Sơn và phía Ðông giáp biển. Trời về chiều, đi qua đoạn quốc lộ 1A cũ, nhìn những ngôi nhà lẻ loi ven đường, nhìn đồi cát rồi lại nhìn ra biển, không có gì khác ngoài cảm giác hiu quạnh, lạnh lùng.

Ðời sống của người dân ở đây cũng chật vật, chẳng có ruộng để trồng lúa, chẳng có phố xá để buôn bán, chẳng có tàu thuyền để ra khơi, dường như cái nghèo tiền định cứ vận vào họ, dường như cái nghèo thấm tận máu thịt, toát ra thành tiếng thở nặng nhọc. Kiếm sống, chẳng có gì khác ngoài giăng lưới trên đầm, lên rừng đốn củi, dường như là để qua ngày đoạn tháng thì đúng hơn.

Người dân Loan Lý lột vỏ hàu. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)

Tôi còn nhớ năm ngoái, sau chuyến đi Quảng Bình để theo dõi thông tin về hậu quả trận lụt kinh hoàng, khi trở về, đến Loan Lý, tôi dừng xe ngồi nghỉ xả hơi và không khỏi bồi hồi. Người dân ở đây chẳng biết làm gì trong mùa mưa bão. Những nhà khá giả (thường là dân kinh doanh ở nơi khác đến) thì mở quán ăn đường dài, đàn bà, đàn ông cứ ra đường đứng huơ nón, vẫy tay chào mời từng chiếc xe đi qua, được chăng hay chớ.

Còn lại phần lớn đi rừng kiếm củi, mấy đứa nhỏ thì ra trạm trung chuyển hầm Hải Vân đứng bán vé số, bán bánh ướt, thậm chí có đứa xin ăn.

 

Ðược mùa vẫn thấy buồn

 

Năm nay tôi lại đi qua Loan Lý, ghé thăm, cũng chẳng có gì hơn. Có hơn chăng là mùa hàu năm nay trúng đậm. Nhưng sao chẳng thấy mọi người vui vẻ. Họ cứ trầm trầm làm sao!

Gặp một người ngồi cùng đống hàu to tướng bên đường, anh đang ngồi gõ gõ, đập đập rồi lại chặt, chẻ những vỏ hàu cứng để lấy ruột, ngâm nước lã cho trắng. Thấy tôi dừng, anh vui vẻ chào mời: “Mua đi anh ơi, rẻ lắm, giá đã bóc vỏ là 50 ngàn đồng một ký, giá chưa bóc vỏ là mười lăm ngàn đồng một ký, mua về nấu cháo anh à, ngon lắm, mát lắm, bổ lắm…!”

Dù chưa mua, chưa nấu cháo nhưng nghe cái giọng Huế lơ lớ ngọt cùng với nụ cười hiền tưởng chừng như hiền hơn cả các chị cũng thấy ngọt rồi. Tôi hỏi: “Anh ơi, vui lòng cho tôi hỏi thăm, hàu này mình khai thác bằng cách như thế nào hả anh?”

Người đàn ông dừng tay, nheo mắt nhìn: “À, dễ anh à, tới mùa mình bơi thuyền ra mở dây, thu vào thôi, đơn giản lắm. Vì nó bám quanh lốp xe, cứ thế mang về gỡ ra và lấy thịt.”

Hàu sau khi người dân thu hoạch. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)

Sau một lúc hỏi han, trò chuyện, người đàn ông tự giới thiệu anh tên Tuấn, người thôn Loan Lý, dòng họ anh đã mười mấy đời lập nghiệp ở thôn này. Và nghề nuôi hàu vốn là nghề truyền thống của gia đình anh.

Anh nói: “Hàu là sinh vật mà theo tôi nghĩ nó sinh ra từ bọt nước hay sao ấy. Ðặc biệt chỉ có đầm Lập An là nuôi hàu thành công nhất, có thể nói là thành công nhất Việt Nam nữa kia. Bằng chứng là mỗi năm, thôn Loan Lý xuất đi các tỉnh khác cả trăm tấn hàu.”

“Nghề này tính ra cũng nhàn hạ, tới mùa Tháng Ba, nghe gió nồm thổi là mình mang dụng cụ ra đặt, chẳng phải tốn thức ăn gì hết, cứ chia ô trong đầm ra, mỗi gia đình theo phần ô của mình mà treo lốp xe. Hàu tự bám vào đấy và chừng Tháng Giêng, Tháng Hai năm sau thì mình ra thu hoạch, cứ vớt lốp xe lên, mỗi lốp xe đạp kiếm được từ năm đến mười ký lô hàu nguyên vỏ, còn lốp honda hay xe hơi thì miễn bàn. Nếu siêng một chút, bóc vỏ bán có giá hơn, kiếm thêm chút tiền đi chợ.”

Tôi hỏi thêm mấy người bán hàu khác bên đường về đời sống của họ. Dường như ai cũng nói rằng nhờ có nghề nuôi hàu mà họ khá lên được. Nhà nuôi ít mỗi năm kiếm chừng mươi triệu đồng, nhà nuôi nhiều kiếm mỗi năm cả trăm triệu đồng. Với họ, chừng ấy tiền không nhỏ tí nào. Nếu đi chặt củi rừng hoặc đánh lưới tự nhiên thì có khi cả mười năm họ chưa dư được một trăm triệu. Nhưng nuôi hàu thì có khác, họ sắm được ti vi, tủ lạnh, xe máy. Ðời sống bớt cơ cực.

Nhưng cái may không phải lúc nào cũng đến với bà con. Có năm đầm bị một vết dầu loang hoặc sóng gió thất thường, đến khi thu hoạch, vài ba con hàu lèo tèo bám trên lốp. Cả năm chờ đợi, cầm chiếc lốp xe mà chỉ biết ứa nước mắt.

 

Nỗi lo…

 

Người giàu thực sự, phất lên do hàu lại không phải là dân nuôi hàu mà là vợ các cán bộ và những kẻ có thế lực. Họ nghiễm nhiên mở nhà hàng, thậm chí chiếm đất mở nhà hàng bán hải sản.

Người dân chờ đợi cả năm, giỏi lắm cũng chỉ bán được 50 ngàn đồng cho một ký hàu đã bóc vỏ là cùng. Người nào bóc giỏi lắm thì một ngày được chừng 10 ký ruột hàu, không thể hơn. Vì vỏ hàu cứng, khi đập ra lại rất sắc cạnh, nếu bóc không cẩn thận có thể đứt tay. Mà không có gì nguy hiểm và dễ nhiễm trùng bằng bị vỏ hàu cắt.

Nhưng ở những nhà hàng thì khác, giá một bát cháo hàu ít nhất cũng là hai chục ngàn đồng. Ðó là giá nhà hàng tầm tầm, có nhiều nhà hàng bán lên đến 50 ngàn đồng. Trung bình một ký hàu nấu được ít nhất cũng mười lăm bát cháo. Như vậy, cái lợi của người nuôi hàu suy cho cùng thì cũng chỉ bằng một phần mười của nhà hàng.

Nhưng nếu chỉ so sánh cái lợi thì không có gì phải bàn, vấn đề là càng lúc, các ‘vị’ này càng lấn ra đầm để xây dựng nhà hàng, xây dựng khu du lịch. Ðầm Lập An ngày một nhỏ lại. Nhiều ô nuôi hàu của bà con bị mất trắng, chẳng biết than thở với ai.

Ðó là chưa nói đến chuyện khi những nhà hàng này hoạt động đồng loạt thì nước trong đầm dần dần sẽ dơ bẩn, các sinh vật sẽ di chuyển tìm vùng nước sạch khác hoặc chết đi. Và nghề nuôi hàu cũng chấm dứt vì nguyên nhân này không chừng!

Nếu thật sự đều này xảy ra thì người dân thôn Loan Lý chỉ còn một nước duy nhất: Kêu trời hoặc gọi “hàu ơi” cho đỡ nhớ!

 

Chuyên mục:Phóng sự Thẻ:,
%d bloggers like this: