Trang chủ > Phóng sự > Ðến Huế, thăm ‘Thành Phố Lăng Mộ’

Ðến Huế, thăm ‘Thành Phố Lăng Mộ’

Tháng Ba 20, 2011

Trần Tiến Dũng/Người Việt

‘Có những người làng còn bị khinh vì nghèo’

HUẾ – Huế vào những ngày sau Tết Tân Mão trời vẫn rất lạnh. Trong tiết trời lạnh bất thường năm nay, người ta không lo sợ nhiều về thiên tai mà lại sợ về những cơn bão giá sẽ tới do tình trạng lạm phát và tiền đồng Việt Nam mất giá tồi tệ.

Một góc “thành phố lăng” ở huyện Phú Vang, Huế. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Chúng tôi đến Huế và ở trong một làng quê không báo chí, không Internet. Vẻ ngoài của làng Trúc Lâm này như vẫn đang ở trong một đám mây mù của thế kỷ trước. Ðược ít ngày sống im lắng trong làng quê Huế là một trải nghiệm khó quên.

 

Ðiểm tâm món Huế ở làng quê

 

Buổi sáng, chúng tôi ra một cái chòi bán bún ven đường và chỉ tốn có sáu ngàn bạc là no nê với bún giò heo, chỉ có bốn ngàn là món bánh ướt với những miếng chả xắt chỉ như miếng gỗ dăm, món bún xáo nghệ ai ăn bao nhiêu cũng bán… Ở làng quê Huế luôn có món rẻ hơn và ngon hơn cho thực khách chịu hòa mình vào đời sống dân quê.

Không chỉ ở làng quê Huế, ngay ở nội thành, người ta cũng có thể tìm được một tô cơm hến ở Vĩ Dạ chỉ có giá sáu ngàn, một tô bánh canh cá và rất nhiều món ngon khác có giá không hơn mười ngàn đồng.

Ðiều đó có nghĩa, xứ Huế dễ sống với dân du lịch nghèo nhưng chưa chắc dễ sống với chính người nghèo Huế. Nếu tạm cho rằng có thể sống tạm no, tạm đủ ở Huế với giá 1 đô la một ngày thì một người Huế cũng như hàng triệu người Việt Nam nghèo trên khắp đất nước, làm sao có thể tưởng tượng nỗi về những người ăn sáng với một tô phở có giá… 35 đô la ở Hà Nội, về con số hàng ngàn tỉ đồng chảy vào túi riêng của tầng lớp cán bộ tham nhũng mỗi ngày.

Tôi luôn luôn kêu một lúc hai ly cà phê đá, bà chủ quán đầu làng biết ý, khuyến mãi thêm một cục nước đá bằng ngón cẳng cái. Ly cà phê đá làng quê chỉ uống một ngụm là hết, nếu rảnh, chờ nước đá trong ly tan ra cũng cho người uống thêm vài ngụm nữa, còn như chịu nhấp môi từ từ thì có thể ngồi yên trong quán bên ly cà phê được vài tiếng đồng hồ để nhìn hoa cải và hoa dại nở rực rỡ ngoài mấy chân ruộng và đón trong gió hương rơm rạ và mùi phân trâu, bò.

 

Thành Phố Lăng

 

Chắc không ở đâu đất dành cho nghĩa trang, lăng mộ, đình miếu am thờ… phế tích các nhà thờ họ tộc nhiều như ở Huế. Hôm chúng tôi nghe lời khuyên của ông Trần Dật đi thăm thành phố nghĩa trang, chúng tôi hoàn toàn không ý thức được rằng ở cố đô lại có một khu lăng mộ của một “hoàng triều Việt kiều” như vậy.

Nơi đây còn được gọi là thành phố mà vẫn tiếp tục xây mới những ngôi mộ to lớn đến kỳ dị. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Từ lộ 49, đến cửa biển Thuận An rồi ven theo con đường huyện trải nhựa, đi xuyên qua những vùng quê tuyệt đẹp của xứ Huế, đâu đâu chúng tôi cũng thấy mộ to, mộ nhỏ, có khi cả một quãng đường chỉ toàn là các khu mộ với cùng một kiểu kiến trúc rồng chầu, hổ phục rực rỡ và những vuông ruộng nhỏ với những chùm hoa màu lơ thơ.

Sau nhiều lần đi lố, chúng tôi nản lòng định quay về nhưng một bà bán bún ven đường khuyên: Anh đã đến đây rồi đi về là dại, mấy khu mộ mà anh thấy bên đường không “si-nhê” gì, có lớn đến thế nào đi nữa cũng không “si-nhê” gì so với thành phố lăng.”

Thành Phố Lăng, tên mà người dân ở đây gọi khu mộ thuộc làng An Bằng, xã Vĩnh An huyên Phú Vang. Ðiều kỳ lạ là để đi vào thành phố ma nổi tiếng này, người ta phải vào một con hẻm tráng xi-măng không khác mấy những con hẻm nghèo ở khắp đất nước này. Nhưng khi vừa mới qua khỏi cổng làng thì sẽ bắt gặp ngay những ngôi nhà ở kiểu biệt thự với kiến trúc và vật liệu cực kỳ hiện đại, không hề thua kém những mẫu nhà biệt thự cao cấp ở khu Phú Mỹ Hưng-Sài Gòn. Chỉ trên một đoạn đường hẻm chừng vài trăm thước, từng nhà “Việt kiều” tranh nhau từ góc, từ gạch, hàng rào đắt tiền đến những mái vòm, sân cảnh, thác nước… xa hoa. Nhưng, toàn bộ vẻ ngoài bề thế của khu nhà ở người sống làng An Bằng cũng không thấm vào đâu nếu so với khu nhà ở của người chết.

Chúng tôi thật sự choáng ngợp trước một khu lăng mộ. Vội vã dừng xe lại, chộp ngay lấy một anh thợ xây mộ đang đi. Chỉ vào ngôi một phía bên tay phải chúng tôi hỏi có phải đây là ngôi mộ lớn nhất không. Anh thợ trẻ nói, trước đây thì đúng nhưng khi cái kia (anh chỉ về ngôi mộ đang xây phía bên tay phải) mà xây xong thì chỉ hàng thứ hai thôi, mà cũng chưa chắc vì còn nhiều ngôi mộ đang xây khác nữa.

Cái ngôi mộ chúng tôi ngỡ lớn nhất, theo anh thợ trẻ, là của một ông trưởng tộc họ Hoàng. Mộ lớn như vậy cũng chỉ “năm, sáu tỉ bạc thôi” vì không có cẩn chén, nếu có cẩn miểng chén mà dùng đồ sứ mới của Trung Quốc thì có khi giá lên tới chín, mười tỉ bạc (khoảng trên 400,000 USD).

Theo một người dân sở tại, đất xây lăng ở đây có hai khu, một là khu nghĩa địa cũ của làng, một là đất tư nhân. Anh thợ xây này nói: “Nhưng dù đất của ai cũng chỉ thấy tội nghiệp những ngôi mộ nhà nghèo, con cháu phải cắn răng nhận tiền ‘đền bù’ để dời thân nhân mình đi cho có chỗ họ tranh nhau xây lăng.”

Chúng tôi đi bộ một vòng và cảm nhận về một thành phố người chết kỳ dị, nơi mà mỗi căn nhà người chết “nghèo” nhất cũng có giá không dưới vài chục ngàn đôla, nơi có vô số long-lân-qui-phụng, có vô số ảnh thờ, tượng thánh, nơi mà cảnh giới cõi trên hiện ra màu mè rực rỡ qua từng màu miểng chén, nơi mà công đức danh phận tại thế được tô vẽ trên bia mộ bằng đủ mọi kiểu chữ. Nhưng nơi đây cũng là chỗ thường ngày chẳng mấy khi có bóng người, chỉ thường thấy gia súc và côn trùng, đến cỏ cây cũng trơ trụi vì bị biệt thự người chết chèn lấn.

 

Một gia đình Việt kiều nặng lòng với làng quê Huế

 

Không phải mọi người Huế cùng có khuynh hướng xây lăng mộ. Tôi nhớ trong lúc dùng cơm với gia đình ông Trần Dật và bà Ngô Lê Ái Lan, ông Dật có hỏi bà chị cả tuổi đã gần chín mươi của mình, rằng chị có muốn xây lăng không? Bà lão sau một lúc trầm ngâm rồi lắc đầu: “Ôn đem tiền giúp người làng mình, dựng lại chùa làng còn hơn, còn có người làng bị khinh vì nghèo.”

Ông bà Trần Dật, từ Mỹ về thăm quê, cùng bà lão thọ 97 tuổi ở viện dưỡng lão chùa Diệu Viên, một viện dưỡng lão nhỏ do gia đình ông xây cất. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Sau 16 năm về làng, gia đình người cựu quân nhân VNCH này đã khôi phục được ngôi chùa làng, ngôi chùa hoang phế này, nay đã có thầy trụ trì về chăm sóc cho đời sống tâm linh người làng vốn cũng bị hoang phế sau hàng thập kỷ. Ông Dật tin rằng, khi giềng mối tâm linh-đạo đức được gìn giữ và tôn vinh thì những sự thay đổi về vật chất mới có ý nghĩa, còn ngược lại thì chuốc lấy thêm tai họa.

Nếu đứng ở góc nhìn chung về các vấn nạn văn hóa, xã hội, chính trị… của toàn cảnh Việt Nam và xứ Huế như hiện nay, liệu ông có chắc rằng công đức của ông và gia đình suốt mười mấy năm ròng rã về dựng lại chùa làng, xây nhà dưỡng lão, lì xì cho người già, cấp học bổng cho trẻ em nghèo… có góp phần chống chọi được không? Ông Trần Dật nói ông “chỉ muốn làm cái việc mình làm được.” Ông thêm: “Tôi là người mất nước nhưng còn bà con, còn dân tộc.”

Với một thị dân như tôi, cái vốn về làng quê và văn hóa làng hầu như mất trắng rồi, và tôi nghĩ con cháu ông Trần Dật, những người sinh ra và trưởng thành ở Hoa Kỳ, chắc cũng không có cái làng Việt Nam trong ký ức. Ông Trần Dật nói: “Không phải tôi đưa con cháu về để chúng biết làng của tôi, mà gọi chúng về để chúng có cái làng của chúng, có cái gốc cội này dù mờ nhạt cũng còn hơn không có gì.”

Sẽ có nhiều người không đồng ý cách nghĩ với người cựu sĩ quan Không Quân di tản từ năm 1975 này. Với họ, chuyện con cháu hội nhập trọn vẹn với đất nước mà cha mẹ lưu vong là việc quan trọng hàng đầu, nếu cần dứt hẳn với những di sản xưa cũ cùng những trải nghiệm bi thương càng tốt. Ông Dật rướm nước mắt, nói: “Bây giờ đại gia đình tôi ai cũng có cái làng. Mấy chục năm ở Hoa Kỳ, đêm nào tôi cũng cầu nguyện chư Phật chỉ hai điều: Mong chư Phật gia hộ cho gia đình tôi đừng tan rã ở nước Mỹ, và cho tôi được thấy ngày đất nước được dân chủ tự do.”

 

Chuyên mục:Phóng sự Thẻ:
%d bloggers like this: