Trang chủ > Phóng sự, Văn hóa & Đời sống > Thanh Hóa đối mặt với cái đói

Thanh Hóa đối mặt với cái đói

Tháng Năm 13, 2011

Kỳ 1: Ðói dài nhiều năm vì mất đất

Phóng sự của Liêu Thái/Người Việt

LTS: Truyền thông Việt Nam cho hay, có khoảng 250 ngàn người trong 7 huyện của tỉnh Thanh Hóa đang đối mặt với cái đói. Ðó là các huyện Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân và Như Xuân. Cái đói đang hiện diện và rình rập 1/4 triệu người là bởi hạn hán làm thất mùa, nhưng nguyên nhân chính vẫn là người nông dân đang mất dần đất canh tác. Cộng tác viên Liêu Thái của Người Việt vừa có chuyến đi đến các địa phương bị đói của tỉnh Thanh Hóa và gởi về loạt phóng sự này.

Có lẽ, trong lúc này, nói chuyện về nơi có quá nhiều người bị đói khi tôi đang ngồi trong một nhà trọ loại trung bình, có Internet Wifi tại một thị trấn vùng ven của tỉnh Thanh Hóa nghe như có vẻ kỳ cục và khó tin, nhưng đó lại là sự thật.

Người nông dân trong căn bếp tồi tàn chuẩn bị cho bữa ăn ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)

Cái ấn tượng nghèo, cúp điện, cả một đoạn đường dài dọc quốc lộ 1A trên địa phận tỉnh Thanh Hóa bay toàn mùi bụi đất và mùi khoai lang luộc, khoai mì luộc và đi ngang qua những dãy nhà thấp lè tè, đóng cửa im ỉm, không thấy đèn đóm, cứ rờn rợn cảm giác bóng ma đói lịch sử 1945 đang quanh quẩn đâu đây…

Chúng tôi đến địa phận Thanh Hóa vào lúc 6 giờ chiều. Lúc này, không còn nhìn thấy người ăn xin ngoài đường, thỉnh thoảng, vài chục thanh niên đua xe, rồ ga, bóp còi inh ỏi phóng dọc theo đường 1A, người hai bên đường dạt vào lề tránh đường, xe cộ chạy loạn xạ.

Chị H., chủ quán trên đường 1A, đoạn đi qua huyện Quảng Xương cho biết, nửa tháng trở lại đây, trung bình mỗi ngày có khoảng 10 đến 15 người ăn xin ghé quán chị. Ðó là những người có nhà cửa đường hoàng. Có nhiều người không nhà cửa, suốt đời đi làm thuê, họ ghé quán vài chục lần xin đủ tiền thì đón xe vào Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Ðà Nẵng để xin ăn, làm thuê tứ xứ…

Những người lao động đang ì ạch bốc đá dưới cái nắng như đổ lửa… (Hình: Phi Khanh/Người Việt)

Chị H. nói: “Thật ra, nhà hàng của tui cũng khó khăn lắm. Ðể họ ngửa tay xin thì mất khách, mà đuổi họ đi thì cũng không đành. Gần đây, họ kéo đến ngày càng đông bởi mất mùa. Biết làm sao bây giờ!”

Theo chị H.: “Họ tập trung ở các chợ rất đông, ở một số chợ bảo vệ được lệnh cấm họ vào. Ðợi bảo vệ ngó lơ, họ lại vào trước cổng chợ xin người qua lại…”

Hỏi tin về các địa phương có người bị đói, chị H. cho hay: “Nếu đến các huyện thì sẽ gặp họ, nhưng chắc chắc là những người già không đủ sức đi đâu xa và trẻ em chưa biết xin ăn nên được ở nhà để ‘coi nhà.’”

Lúc này, người chủ quán cũng bắt đầu ngủ gật, tôi nhìn sang tấm biển, không nín được cười bởi cái quán thì bé tẹo, vài ba bộ bàn ghế xiêu vẹo, thức bán thì có mấy món như phở, cơm, cháo gà, vài ba thứ quà vặt bán cho người qua đường. Nhưng biển là ghi “Nhà hàng Tuấn Tú.”

Hỏi thăm tại sao để bảng là nhà hàng. Chị H. cười: “Ðể vậy thì mới đông khách, và giảm bớt ăn xin tới lui, vùng này ăn xin nhiều lắm. Không những mất mùa mới có nhiều như năm nay đâu. Ðây là cái lò ăn xin của cả nước. Mùa nào mà chẳng có người xin ăn. Không tin, ngày mai chú đến các huyện rồi biết họ nghèo cỡ nào!”

* Những người mất đất ở làng Cáy, huyện Thường Xuân

Ðến ngã ba Voi, rời quốc lộ 1A, đi chừng 30km gặp đường Trường Sơn, quẹo phải và men theo đường này chừng 60km, rẽ vào khu xóm núi, qua vài con đường nhựa lồi lõm ổ gà, chúng tôi đến huyện Thường Xuân.

Ðây là huyện được xếp vào diện nghèo nhất trong 61 huyện nghèo của Việt Nam.

Ðiều làm chúng tôi ngạc nhiên là trên các báo đài đều đưa tin huyện này bị mất mùa, bà con không có lúa gạo ăn, nhưng nhìn ra những cánh đồng xanh mướt hai bên đường, các nông trường mía bạt ngàn màu xanh, chúng tôi luôn bị cảm giác ngờ ngợ mình đi lầm đường và hỏi thăm nhiều lần.

Bà cụ này đang ngồi ngóng con đi làm công nhân bốc đá trên đập thủy điện, đã 12 giờ trưa, bà vẫn chưa có gì bỏ vào bụng. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)

Cuối cùng, chúng tôi tin rằng mình đã đến làng Cáy, thôn Trung Nghĩa, xã Lương Sơn, huyện Thường Xuân.

Một cái làng nghèo nhất nước.

Ghé vào một quán nước bên đường, đây cũng là nơi các thanh niên dân tộc thiểu số lao động bốc đá cho công trình thủy điện Cửa Ðạt hay ra ngồi uống nước. Sau một hồi làm quen, người chủ quán cho biết anh cũng là chủ nợ của 45 hộ dân ở đây, cứ hằng tháng, dân làng ra cân gạo nợ, đến cuối vụ lại bán lúa cho anh để trừ nợ. Nhưng năm nay thì có khác.

Khác ở chỗ năm nay dân làng không thể trả lúa trừ nợ như mọi năm bởi đất của họ không còn nữa.

Anh Huy (tên người chủ quán) cho biết: “Công trình thủy điện mọc lên, bà con đã nghèo càng thêm nghèo bởi không còn đất để canh tác, dân ở đây phần lớn vào miền Nam làm thuê, đi làm tứ xứ, có người đi đào vàng ở miền Trung, nói chung nghèo mà ở đây thì chỉ có chết đói!”

Một ngôi nhà của đồng bào Thái Ðen, ở đây, lấp ló trong rừng chỉ toàn là nhà kiểu này. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)

Giữa cái nóng 39, 40 độ C, gần 12 giờ trưa, người lao động mồ hôi nhễ nhại bốc từng viên đá hộc nặng cỡ 30, 40kg lội ngược dốc từ lòng hồ chứa lên đến bờ đập, dốc cao chừng 30 mét.

Một phụ nữ làm việc ở đây cho biết: “Chúng tôi là dân làng, thuộc dân tộc Thái Ðen, chúng tôi không có đất, phải đi làm thuê hoặc vào rừng hái củ mài bán mua gạo. Cũng may còn có công trình để mà bốc đá, mỗi ngày, không biết rồi trụ được bao lâu đây nữa!”

Công trình thủy Ðiện Cửa Ðạt có dung lượng chứa nước lớn nhất Việt Nam (1.45 tỉ m3) khi đi vào hoạt động. Diện tích và lưu lượng của nó còn lớn hơn cả hồ Dầu Tiếng của Tây Ninh.

Khi xây dựng đập Cửa Ðạt, các hộ dân tộc thiểu số phải di dời có đền bù. Số tiền đền bù đất đai, nhà cửa, ruộng vườn của họ lên đến vài trăm triệu đồng, thậm chí cả tỉ đồng. Vậy sao họ lại nghèo?

Một thầy giáo tên N. buồn rầu nói: “Dân nghèo bị lừa anh à. Họ vừa nhận được tiền đền bù đất thì có một đám đầu nậu số đề ở Hà Nội lên đây xây dựng bản doanh ngay tức khắc. Công việc của họ là bủa người ra rủ bà con chơi đề. Chỉ trong vòng ba tháng, những người có tiền đền bù đất đã phải đi mua gạo nợ, rồi đi đào củ mài, đi bốc đá thuê cho công trình đập thủy điện.”

“Cái điều vô lý nằm ở chỗ nơi này là nơi mà bất kỳ ai nói xấu đảng Cộng sản, thì chỉ trong vòng nửa giờ sau đã bị mời lên công an răn đe. Vậy mà các chủ số đề lên đây ba tháng, không thấy họ hề hấn gì, thậm chí họ ung dung đi nhậu với cán bộ, quan chức ở đây. Tụi nó xem công an là bạn và những người được đền bù đất là con mồi béo bở. Ðau thật! Không có ông trời, không có thiên tai nào hại bà con đâu, anh cứ nhìn ra ruộng đồng cây cối xanh mướt thế kia thì làm sao mà thiên tai được, con người hại con người anh à!”

Trầm ngâm một chút, N. tiếp tục: “Trước đây, bà con tuy có đất nhưng cũng không ra gì, phần lớn vẫn là đất rừng nhà nước, họ không được đụng đến, giỏi lắm mỗi hộ được vài sào đất làm ruộng, hộ nào khá lắm thì năm sào là cùng. Anh thử nghĩ làm nông, sống quanh năm dựa vào hạt lúa, cây bắp, mà mỗi năm thu nhập chưa đến 5 triệu đồng cho gần 10 người ăn ở thì không nghèo đói mới là lạ. Nhưng dù sao thì cũng đỡ hơn chuyện bây giờ họ mất trắng, nhà cửa không có, nghề nghiệp không có, tiền bạc không có.

Khó mà tin được họ không đi ăn mày!

(Còn tiếp)

%d bloggers like this: