Trang chủ > Trung Quốc > Thư ngỏ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Thực thi điều 35 Hiến pháp Trung Quốc, bãi bỏ kiểm duyệt, thực hiện quyền tự do ngôn luận

Thư ngỏ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Thực thi điều 35 Hiến pháp Trung Quốc, bãi bỏ kiểm duyệt, thực hiện quyền tự do ngôn luận

Tháng Bảy 7, 2011

Kính gửi các ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Điều 35 Hiến pháp Trung Quốc, thông qua vào năm 1982, nói rõ: “Công dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do diễu hành và biểu tình”. Đã 28 năm nay điều khoản này vẫn chưa được thực thi vì bị những qui định và luật lệ cụ thể “bổ sung” khác phủ nhận. Nền dân chủ giả hiệu, về hình thức thì thừa nhận nhưng trong những sự việc cụ thể lại chối bỏ dân chủ, là một biểu hiện đáng hổ thẹn trong lịch sử của nền dân chủ thế giới.

Ngày 26 tháng 2 năm 2003, tại cuộc hội thảo về dân chủ giữa Uỷ ban Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đảng dân chủ khác, trước khi nhậm chức, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố một cách rõ ràng: “Bãi bỏ hạn chế báo chí, mở rộng ý kiến công khai, là quan điểm chính thống và đòi hỏi của xã hội; điều đó là đương nhiên và phải được giải quyết thông qua thủ tục lập pháp. Nếu Đảng Cộng sản không tự cải cách, không chuyển hoá, thì nó sẽ mất sức sống và dẫn đến diệt vong”.

Ngày 3 tháng 10, Fareed Zakaria của đài CNN đã phỏng vấn Thủ tướng Ôn Gia Bảo. Trả lời câu hỏi của nhà báo, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nói: “Tự do ngôn luận là tuyệt đối cần thiết đối với mọi dân tộc, Hiến pháp Trung Quốc cho người dân tự do ngôn luận, đòi hỏi dân chủ của nhân dân là không thể ngăn chặn được”.

Phù hợp với Hiến pháp Trung Quốc và tinh thần của những lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo, chúng tôi xin trình bày những điều có liên quan tới việc thực thi quyền hiến định về tự do ngôn luận và tự do báo chí như sau:

Về hiện trạng của quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí ở nước ta

Chúng ta đã có 61 năm làm “chủ nhân ông” của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Nhưng quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí mà chúng ta được hưởng còn thấp hơn là dân chúng ở thuộc địa Hồng Kông từng được hưởng. Đấy là nói trước khi khu vực này được trả về cho Trung Quốc.

Trước khi được trao trả, Hồng Kông là thuộc địa của Anh, do chính phủ được Nữ hoàng Anh chỉ định cai trị. Nhưng quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí mà chính quyền Anh dành cho dân chúng Hồng Kông thì không phải là lời nói suông, chỉ có trên giấy tờ. Các quyền đó đã được ban hành và được thực thi.

Khi đất nước ta được thành lập vào năm 1949, nhân dân ta hô lên rằng họ đã được giải phóng, họ là chủ nhân ông của chính mình. Mao Trạch Đông nói rằng “Từ phút này trở đi, nhân dân Trung Quốc đã đứng lên”. Nhưng ngay trong ngày hôm nay, 61 năm sau khi thành lập nước cộng hoà, 30 năm sau mở cửa và cải cách, chúng ta vẫn chưa đạt được mức độ tự do ngôn luận và tự do báo chí mà người dân dưới chính quyền thuộc địa ở Hồng Kông được hưởng. Ngay cả hiện nay, nhiều tác phẩm thảo luận về chính trị và những vấn đề thời sự vẫn phải xuất bản ở Hồng Công. Đấy không phải là chuyện xảy ra từ ngày lãnh thổ này được trao trả mà là chiến lược cũ rích của chính quyền thuộc địa. Địa vị “ông chủ” của nhân dân Trung Quốc lục địa thật quá thấp kém. Vì vậy mà việc nước ta tự quảng bá mình là “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” mang đặc tính Trung Quốc đã gây nhiều bối rối.

Không chỉ các công dân bình thường mà ngay cả những nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản cũng không có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Gần đây Lý Duệ đã gặp hoàn cảnh như sau. Cách đây không lâu, cuốn Tập hợp các bài viết tưởng niệm Chu Tiểu Châu được xuất bản, trong đó có tiểu luận của Lý Duệ viết về Chu Tiểu Châu, đã được đăng trên tờ Nhân dân Nhật báo năm 1981. Phu nhân của Chu Tiểu Châu gọi điện cho Lý Duệ và giải thích tình hình như sau: “Bắc Kinh đã thông báo. Không được đăng bài viết của Lý Duệ”. Chuyện nực cười không thể tưởng tượng được là một bài viết cũ trên báo Đảng lại không được phép đưa vào tuyển tập! Lý Duệ nói: “Đây là đất nước kiểu gì vậy? Tôi muốn thét lên: Phải có tự do báo chí! Bóp nghẹt quyền tự do thể hiện của nhân dân như vậy là hoàn toàn phi pháp!”

Không chỉ các cán bộ cao cấp, ngay cả Thủ tướng nước ta cũng không có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí! Ngày 21 tháng 8 năm 2010, Thủ tường Ôn Gia Bảo, trong bài nói chuyện ở Thẩm Quyến dưới nhan đề: “Chỉ có thúc đẩy cải cách dân tộc ta mới có tương lai tươi sáng”, đã nói: “Chúng ta phải thúc đẩy không chỉ cải cách kinh tế mà còn đẩy mạnh cải cách chính trị nữa. Không được cải cách chính trị che chở, chúng ta sẽ đánh mất các thành quả do cải cách kinh tế mang lại và mục tiêu hiện đại hoá của chúng ta cũng sẽ không trở thành hiện thực được”. Bản tin chính thức của Tân Hoa xã cũng ngày 21 tháng 8, nhan đề “Xây dựng tương lai tươi đẹp cho đặc khu kinh tế”, không đăng nội dung liên quan đến cải cách chính trị của Thủ tướng Ôn Gia Bảo.

Ngày 22 tháng 9 năm 2010 (giờ Hoa Kỳ), ở New York, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã có cuộc nói chuyện với báo chí Trung Quốc tại Hoa Kỳ và báo chí Hồng Kông cũng như Ma Cao, ở đây ông lại nhấn mạnh tầm quan trọng của “cải cách hệ thống chính trị”. Thủ tướng Ôn nói: “Liên quan đến cải cách chính trị, trước đây tôi đã nói rằng cải cách kinh tế mà không được thành quả của cải cách chính trị bảo vệ thì chúng ta sẽ không thu được thắng lợi hoàn toàn và có thể những thành quả mà chúng ta đạt được cho đến nay cũng sẽ bị mất”. Ngay sau đó, Ôn Gia Bảo đã phát biểu tại kì họp lần thứ 65 của Đại Hội đồng Liên hiệp quốc với bài diễn văn mang tên: “Nhận thức nước Trung Hoa đích thực”, trong đó ông lại nhắc đến cải cách chính trị. Ngày 23 tháng 9 (giờ Bắc Kinh) các sự kiện này được đưa lên chương trình Thời sự của Đài Truyền hình Trung ương và Tân Hoa xã cũng đưa tin. Nhưng họ chỉ tường thuật nhận xét của Ôn Gia Bảo về những hoàn cảnh mà người Trung Quốc ở hải ngoại phải đương đầu cũng như tầm quan trọng của các phương tiện thông tin của Trung Quốc ở hải ngoại mà thôi. Đoạn nói về cải cách chính trị đã bị lược bỏ.

Vì những nguyên nhân đó, nếu chúng ta định tìm những người chịu trách nhiệm, chúng ta sẽ không chỉ ra được người nào cụ thể. Đấy là những bàn tay bẩn vô hình. Vì những lí do mà chỉ có họ mới biết, họ đã vi phạm hiến pháp, họ thường ra lệnh bằng điện thoại rằng không được công bố tác phẩm của tác giả này hay tác giả kia, không được tường thuật trên các phương tiện thông tin đại chúng sự kiện này hay sự kiện kia. Người gọi điện không để lại tên, hoàn toàn bí mật, nhưng phải lưu ý đến chỉ thị của họ. Đấy là những bàn tay bẩn từ Ban Tuyên huấn Trung ương, nằm trên cả Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản và trên cả Hội đồng Nhà nước. Chúng tôi xin hỏi, Ban Tuyên huấn Trung ương có quyền gì mà lại cấm bài nói của Thủ tướng? Nó có quyền gì mà tước đoạt quyền của nhân dân, không cho họ được biết Thủ tướng đã nói những gì?

Yêu cầu cốt lõi của chúng tôi là giải tán hệ thống kiểm duyệt nhằm thúc đẩy hệ thống trách nhiệm pháp lí.

Quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí được điều 35 Hiến pháp bảo đảm đã bị những biện pháp bổ sung, thí dụ như “Điều lệ quản lí xuất bản” biến thành thành vật trang trí. Những qui định bổ sung này, nói chung, chính là hệ thống kiểm duyệt và cấp phép. Không thể liệt kê hết những chỉ thị và cấm đoán nhằm ngăn chặn tự do ngôn luận và tự do báo chí. Ban hành luật báo chí và bải bỏ hệ thống kiểm duyệt đã trở thành nhiệm vụ khẩn cấp đối với chúng ta.

Chúng tôi đề nghị Quốc hội tiến hành ngay việc soạn thảo Luật báo chí và bãi bỏ ngay “Điều lệ quản lí xuất bản” cũng như tất cả những hạn chế do các địa phương ban hành đối với tin tức và xuất bản. Nói theo pháp luật, việc thực thi quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí như được bảo đảm trong Hiến pháp có nghĩa là làm cho các phương tiện thông tin đại chúng độc lập đối với Đảng và các cơ quan của chính phủ, là những cơ quan đang kiểm soát chúng, và như thế cũng có nghĩa là chuyển “những cái loa của Đảng” thành “công cụ của công luận”. Vì vậy, cơ sở cho việc soạn thảo Luật báo chí phải là hệ thống trách nhiệm pháp lí trên thực tế. Chúng ta không thể lại tìm cách củng cố hệ thống kiểm duyệt nhân danh “củng cố sự lãnh đạo của Đảng”. Hệ thống kiểm duyệt là hệ thống, theo đó phải được sự chấp thuận của các cơ quan của Đảng thì mới được xuất bản, chỉ xuất bản sau khi đã được chấp chuận và coi tất cả những tài liệu đã xuất bản mà không được chấp thuận đều là phi pháp hết. Hệ thống trách nhiệm pháp lí nghĩa là tài liệu được xuất bản không cần phải được sự chấp thuận của các cơ quan của Đảng hay chính phủ, mà có thể xuất bản sau khi tổng biên tập cho là phù hợp. Nếu có những hậu quả tiêu cực hay tranh cãi sau khi xuất bản thì chính phủ có thể can thiệp và quyết định, phù hợp với luật pháp, xem có phạm pháp hay là không. Trên thế giới, sự phát triển của chế độ pháp trị trong lĩnh vực tin tức và xuất bản đều đi theo con đường như thế, tức là chuyển từ hệ thống kiểm duyệt sang hệ thống trách nhiệm pháp lí. Không nghi ngờ gì rằng hệ thống trách nhiệm pháp lí tiến bộ hơn hệ thống kiểm duyệt và rất có lợi cho sự phát triển các môn khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên, và thúc đẩy sự hài hoà xã hội và tiến bộ. Nước Anh đã bỏ chế độ kiểm duyệt từ năm 1695. Nước Pháp bỏ chế độ kiểm duyệt từ năm 1881, sau thời gian đó chỉ cần đại diện của cơ quan xuất bản viết một tờ khai rồi gửi cho văn phòng biện lí của chính phủ là có thể xuất bản báo và tạp chí rồi. Hệ thống kiểm duyệt hiện nay của chúng ta làm cho việc công bố tin tức và xuất bản sách ở nước ta đi chậm hơn Anh 315 năm và chậm hơn Pháp 129 năm.

Chúng tôi đòi hỏi những điều sau đây:

1. Bãi bỏ việc tài trợ các cơ quan truyền thông nhà nước [Ghi chú: Đó là tổ chức kiểm soát, thực hiện việc kiểm tra của Đảng đối với các phương tiện thông tin đại chúng]; cho phép các cơ quan xuất bản hoạt động độc lập; áp dụng hệ thống, trong đó giám đốc và tổng biên tập chịu trách nhiệm đối với đơn vị xuất bản của mình.

2. Tôn trọng các nhà báo và củng cố vị trí độc lập của họ. Nhà báo phải là “vua không ngai”. Tường thuật những vụ việc có đông người tham gia và vạch trần những vụ tham nhũng là công việc cao quí, công việc này phải được bảo vệ và ủng hộ. Chấm dứt ngay lập tức những hành vi trái pháp luật của các chính quyền địa phương và của công an trong việc bắt giữ các nhà báo. Xem xét lại trường hợp bắt giữ nhà văn Tạ Triêu Bình (谢朝平). Liên quan đến vụ này, bí thư đảng uỷ thành phố Vị Nam (渭南)Lương Phượng Dân (梁凤民) phải bị thi hành kỉ luật Đảng, đấy cũng là lời cảnh cáo đối với những người khác.

3. Bãi bỏ việc hạn chế tự do trong hoạt động phóng sự điều tra dư luận ngoại tỉnh, đảm bảo quyền thực hiện phóng sự điều tra của các phóng viên trong cả nước.

4. Internet là diễn đàn thảo luận quan trọng để chuyển tải tin tức trong xã hội và tiếng nói của người dân. Ngoài những tin tức thực sự liên quan đến bí mật quốc gia và những chuyện xâm phạm quyền riêng tư cá nhân, các cơ quan quản lí internet không được tự ý xoá những bài viết và bình luận đã được đưa lên mạng. Gián điệp mạng phải bị bãi bỏ, “đảng năm xu” [chỉ những người viết bài ủng hộ nhà nước, mỗi bài được trả 5 xu] cũng phải bị bãi bỏ và những hạn chế đối với công nghệ “vượt tường lửa” [chống kiểm duyệt] cũng phải bị bãi bỏ.

5. Không còn những điều cấm kị liên quan đến lịch sử Đảng. Công dân Trung Quốc có quyền biết những sai lầm của đảng cầm quyền.

6. Tuần báo Nam Phương Chu Mạt và tạp chí Viêm Hoàng Xuân Thu cần được tái cơ cấu dưới hình thức thử nghiệm tư nhân. Tư hữu hoá báo và tạp chí là xu hướng tự nhiên của công cuộc cải cách chính trị. Lịch sử dạy chúng ta: khi kẻ cai trị và người ban hành chính sách liên kết chặt chẽ với nhau, khi cả chính phủ lẫn các phương tiện thông tin đại chúng cùng mang tên là “Đảng”, và khi Đảng hát cho mình nghe thì khó liên hệ được với nguyện vọng của nhân dân và thực hiện được sự lãnh đạo đúng đắn. Từ giai đoạn “Đại nhảy vọt” đến “Cách mạng Văn hoá”, báo, tạp chí, đài phát thanh và truyền hình ở Trung Quốc lục địa không bao giờ phản ảnh nguyện vọng của nhân dân. Lãnh đạo Đảng và chính phủ không nhận được những tiếng nói phản biện của nhân dân cho nên khó có thể nhận thức được những sai lầm lớn của mình và tiến hành sửa chữa chúng. Trong các nước dân chủ, đảng cầm quyền và chính phủ không được phép sử dụng tiền thuế của nhân dân để chi cho các phương tiện thông tin đại chúng chuyên ca ngợi mình.

7. Cho phép tự do lưu hành ở đại lục sách báo được in trên những lãnh thổ đã được trao trả là Hồng Kông và Ma Cao. Nước ta đã tham gia WTO, và về mặt kinh tế đã hội nhập với thế giới – những biện pháp nhằm giữ nguyên tình trạng bế quan toả cảng về mặt văn hoá là đi ngược lại đường lối đã được hoạch định nhằm mở cửa và cải cách. Hồng Kông và Ma Cao ở ngay bên cạnh chúng ta, cung cấp cho chúng ta thí dụ về quyền văn hoá tiến bộ hơn; sách báo từ Hồng Kông và Ma Cao được nhân dân ta đón nhận và tin tưởng.

8. Thay đổi chức năng của các cơ quan tuyên truyền, chuyển chúng từ các cơ quan đưa ra rất nhiều những điều “cấm kị” thành các cơ quan bảo vệ tính chính xác, hợp thời và luân chuyển thông tin mà không bị cản trở; từ cơ quan cộng tác với các quan chức tham nhũng bằng cách ngăn chặn và kiểm soát những thông tin phản ánh sự thật thành cơ quan ủng hộ các phương tiện thông tin đại chúng trong việc kiểm tra các cơ quan của Đảng và chính phủ; từ các cơ quan cấm đoán xuất bản, sa thải biên tập viên và bắt bớ phóng viên thành cơ quan chống lại quyền lực, bảo vệ các phương tiện thông tin đại chúng và bảo vệ phóng viên. Bộ máy tuyên truyền của chúng ta đã gây ra nhiều nỗi kinh hoàng, cả trong Đảng lẫn trong xã hội. Họ phải làm việc vì chính lợi ích nhằm giành lại thanh danh của chính mình. Một một thời điểm thích hợp, chúng ta có thể xem xét, đổi tên các cơ quan tuyên truyền cho phù hợp với xu hướng quốc tế.

Chúng tôi khẩn thiết bày tỏ nguyện vọng và mong được toàn bộ sự lưu tâm của quý vị.

Ngày 1 tháng 10 năm 2010

Do Lí Duệ (李锐), Hồ Tích Vĩ (胡绩伟) và những người khác chấp bút.
_____________

23 người kí tên:

Lý Duệ (李锐): Nguyên phó Ban Tổ chức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khoá 12 Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Hồ Tích Vĩ (胡绩伟): Nguyên Chủ nhiệm Nhân dân Nhật báo, uỷ viên Thường vụ Quốc hội lần thứ 7, Giám đốc Hiệp hội các Viện Truyền thông Trung Quốc
Giang Bình (江 平): Nguyên Giám đốc Trường Chính trị và Luật học, giáo sư, uỷ viên Thường vụ Quốc hội Khóa 7, phó Ban Luật pháp Quốc hội
Lý Phổ (李普): Nguyên phó Giám đốc Tân Hoa xã
Chu Thiệu Minh (周绍明): Nguyên Vụ phó Vụ Chính trị, Quân khu Quảng Châu
Chung Bái Chương (锺沛璋): Nguyên Trưởng phòng tin tức của Ban Tuyên huấn Trung ương
Vương Vĩnh Thành (王永成): Giáo sư trường Đại học Giao thông Thượng Hải
Trương Trung Bồi (张忠培): Nghiên cứu viên Bảo tàng Cố cung, Chủ tịch Hội Khảo cổ Trung Quốc
Đỗ Quang (杜光): Nguyên giáo sư Trường Đảng Trung ương
Quách Đạo Huy (郭道晖): Nguyên Tổng Biên tập tạp chí Luật học Trung Quốc
Tiêu Mặc (萧 默): Nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kiến trúc trực thuộc Viện Nghệ thuật Dân tộc Trung Quốc
Trang Phổ Minh (庄浦明): Nguyên phó Giám đốc Nhân dân Nhật báo
Hồ Phủ Thần (胡甫臣): Nguyên Giám đốc và Tổng Biên tập Nhà xuất bản Lao động Trung Quốc
Trương Định (张定): Nguyên Giám đốc phòng Thông tin Khoa học Xã hội thực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc
Vu Hữu (于友): Nguyên Tổng Biên tập Trung Quốc nhật báo
Âu Dương Kình (欧阳劲): Nguyên Tổng Biên tập tờ Tạp chí Thái Bình Dương ở Hồng Kông
Vu Hạo Thành (于浩成): Nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Quần chúng
Trương Thanh (张清): Nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Điện ảnh Trung Quốc
Du Nguyệt Đình (俞月亭): Nguyên Giám đốc Hãng Truyền hình Phúc Kiến, nhà báo lão thành
Sa Diệp Tân (沙叶新): Nguyên Giám đốc Viện Sân khấu và Nghệ thuật Nhân dân Thượng Hải, hiện là nhà văn độc lập của dân tộc Hồi
Tôn Húc Bồi (孙旭培): Nguyên Giám đốc Viện Nghiên cứu Tin tức thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc
Tân Tí Lăng (辛子陵): Nguyên Trưởng Ban Biên tập, Đại học Quốc phòng Trung Quốc
Thiết Lưu (铁流): Tổng Biên tập tạp chí Vãng sự vi ngân (Những vết thương quá khứ)
Cố vấn pháp luật: Tống Nhạc (宋岳): Công dân Trung Quốc, luật sư hành nghề tại New York, Hoa Kì.
_____________
Nguồn: Dịch theo bản tiếng Anh tại: http://cmp.hku.hk/2010/10/13/8035/

Advertisements
%d bloggers like this: